Tranh chấp đất đai liên quan đến bồi thường, giải phóng mặt bằng trên địa bàn tỉnh

22/04/2013

Thực trạng Tranh chấp đất đai (hay còn gọi là tranh chấp về quyền sử dụng đất) là phạm trù từ lâu đã được Đảng và Nhà nước, các cấp chính quyền hết sức quan tâm thể hiện qua việc ban hành nhiều Nghị định, Chỉ thị, Thông tư và hàng loạt các văn bản hướng dẫn. Hiện nay, tình hình khiếu nại, tố cáo, tranh chấp trong lĩnh vực đất đai diễn ra gay gắt, phức tạp ở hầu hết các địa phương trên địa bàn cả nước. Một vài năm trở lại đây các vụ tranh chấp đất đai có xu thế tăng thêm và liên quan ngày một nhiều hơn đến vấn đề bồi thường, giải phóng mặt bằng.

Từ sau khi tái lập tỉnh đến nay, tỉnh Vĩnh đã thu hồi, chuyển mục đích trên 7.000 ha đất các loại nên không thể tránh khỏi các vụ tranh chấp liên quan đến đất đai. Tuy số vụ việc tranh chấp đất đai thời gian gần đây có giảm về số lượng nhưng về tính chất và mức độ quy mô lại có chiều hướng gia tăng, nhiều vụ việc liên quan đến việc bồi thường, giải phóng mặt bằng như đòi được bồi thường đất ở, nâng giá bồi thường, tăng tiền hỗ trợ, bố trí tái định cư, giải quyết việc làm; đòi lại đất cũ, tranh chấp đất đai, nhà ở…
Chỉ tính trong năm 2012, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tiếp nhận tổng số 128 đơn khiếu nại và 16 đơn tố cáo, trong đó có 6 vụ tranh chấp đất đai các loại. Cụ thể: đã giải quyết được 69/72 vụ việc thuộc thẩm quyền trong tổng số 123 vụ việc khiếu nại, tranh chấp. Giải quyết 4/4 vụ tố cáo thuộc thẩm quyền; còn lại do UBND tỉnh giao cho các đơn vị khác nhau hoặc giao cấp huyện giải quyết. Nếu chỉ xếp riêng loại hình tranh chấp đất đai thì trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc số lượng không lớn, từ năm 2009 đến nay, tính tổng số vụ thuộc thẩm quyền của Sở Tài nguyên và Môi trường mới có 22 vụ liên quan đến tranh chấp đất đai, trong đó có 16 vụ đã giải quyết thành công (đã có quyết định của UBND tỉnh) và các bên tranh chấp không có đơn khiếu nại. Trong tổng số 22 vụ này, chủ yếu là các tranh chấp liên quan đến quyền lợi các bên, tuy có rất nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng về cơ bản các vụ tranh chấp thường có đặc điểm chung từ ý ăn, ý ở giữa các hộ liền kề nhau, hoặc giữa anh em trong gia đình, dòng họ,... Tuy nhiên, từ quá trình giải quyết tranh chấp này của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mới phát sinh các khiếu nại, tố cáo hết sức đa dạng và phức tạp.
Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, các tranh chấp đất đai có liên quan đến bồi thường GPMB cũng như các địa phương khác trong cả nước tập trung ở 3 vấn đề chính sau:
Thứ nhất: Do nhà nước thu hồi đất, bồi thường GPMB, hỗ trợ và tái định cư nên phát sinh các tranh chấp từ đất hương hoả, dòng tộc, đòi chia quyền lợi thừa kế.
Thứ hai: Tranh chấp đất giữa cá nhân với cá nhân, hộ gia đình về diện tích, ranh giới sử dụng đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất...
Thứ ba: Tranh chấp về giấy tờ quyền sử dụng đất và chủ sử dụng đất thực sự
Các tồn tại cơ bản và nguyên nhân chủ yếu
Qua thực tế công tác trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc có thể xác định được những tồn tại và nguyên nhân chủ yếu của các tranh chấp đất đai và phát sinh các khiếu nại, tố cáo như sau:
Một là: Công tác hòa giải ở cơ sở chưa phát huy hết hiệu quả
Mặc dù trên địa bàn tỉnh đã thành lập đầy đủ các tổ hòa giải cơ sở ở tất cả các xã, phường, thị trấn. Tuy nhiên người làm công tác này, ngoài việc phải am hiểu về mặt pháp lý, các quy định nhà nước có liên quan đến nhiều loại luật khác nhau như Luật Đất đai, Luật Dân sự, Luật Khiếu nại, tố cáo, Luật Xây dựng,.. thì còn phải có sự tín nhiệm, tôn trọng của đa số người dân khu vực sinh sống và kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình giải quyết, sự am hiểu về phong tục, tập quán cũng như khả năng giáo dục, thuyết phục cao... Như vậy, đối với đội ngũ cán bộ làm công tác hòa giải ở cơ sở thì các yếu tố trên là quá sức, quá khả năng đáp ứng do đa phần là những người hoạt động kiêm nhiệm, ít có thời gian nghiên cứu các văn bản pháp quy, đồng thời có một rào cản lớn hơn chính là tình làng, nghĩa xóm sự ngại va chạm giữa các bên do quan hệ dòng họ, anh em.. Nếu chỉ hòa giải theo con đường lẽ, theo phạm trù quan hệ đạo đức mà chưa có sự am hiểu về lý từ các văn bản pháp quy thì rất khó thực hiện hòa giải thành. Đây cũng là một trong những tồn tại có tính chất dài lâu, khó có thể đảm bảo khắc phục ngay trong thời gian ngắn được.
Hai là: Sự chồng chéo giữa các văn bản pháp quy và chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan giải quyết:
- Mâu thuẫn giữa các khái niệm hành vi hành chính của cán bộ, công chức Nhà nước (tại Luật Đất đai) và hành vi hành chính của cơ quan hành chính Nhà nước (Luật Khiếu nại tố cáo). Hành vi hành chính trong Điều 162, Nghị định 181/2004/NĐ-CP là hành vi của cán bộ, công chức Nhà nước, còn ở Điều 1, Luật khiếu nại, tố cáo là hành vi hành chính của cơ quan hành chính Nhà nước.
- Cơ quan Tòa án khi quyết định giải quyết tranh chấp đất đai thường độc lập so với cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai. Các vụ giải quyết tranh chấp đất đai thường theo thẩm quyền mà cơ quan Tòa án giải quyết độc lập, cơ quan Tài nguyên và Môi trường chủ yếu căn cứ theo các Bản án do Toà án đã tuyên. Vì vậy, trong nhiều bản án đã gây khó khăn khi áp dụng cho cơ quan Tài nguyên và Môi trường.
Ví dụ điển hình cho tình trạng này là việc giao trả giấy tờ về quyền sử dụng đất cho các bên để thực hiện các thủ tục về đất đai tại các bản án. Trong nội dung bản án giải quyết tranh chấp đất đai thường không đề cập đến vấn đề buộc giao trả giấy tờ về nhà, đất mà nếu muốn thực hiện thường phải tách ra thành vụ án riêng về chiếm giữ giấy tờ để xét xử và thi hành theo Luật Thi hành án Dân sự (về cưỡng chế giao trả giấy tờ); trong khi đó, quy định tại Nghị định 84/2007 lại chỉ đề cập đến việc không bàn giao giấy tờ về quyền sử dụng đất đối với các trường hợp mua bán, chuyển nhượng, không nêu đến các trường hợp khác (trong đó có thực hiện theo bản án). Đây là một trong những yếu tố khá phức tạp gây bức xúc cho người sử dụng đất khi một trong các bên cố tình không bàn giao giấy tờ về quyền sử dụng đất nhưng trong bản án lại không thể hiện được nội dung này nên không thể cưỡng chế thi hành án buộc giao trả giấy tờ.
Ba là: Tình trạng mua bán trao tay cũng như quá trình tự dồn đổi ruộng đất của người sử dụng đất đã diễn ra nhiều năm, không có sự kiểm soát của chính quyền các cấp. Trên địa bàn tỉnh trong các giai đoạn quản lý trước đây có các phong trào vận động người sử dụng đất tự dồn đổi ruộng đất cho nhau để thuận tiện trong sản xuất, giao thông, hiện đại hóa nông nghiệp nhưng mới thực hiện trên thực địa, chưa làm được đồng bộ các hạng mục và các bước về việc thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng đúng quy định pháp luật; khi Nhà nước thu hồi đất bắt đầu phát sinh các mâu thuẫn, người có tên trên Giấy chứng nhận lại không phải là người trực tiếp sản xuất trên thửa đất được bồi thường GPMB, đây là mâu thuẫn tưởng chừng dễ giải quyết nhưng thực sự cũng rất khó khăn gây nhiều tranh chấp, khiếu tố.
Bốn là: Sự biến động lớn về chủ sử dụng đất và hệ thống chính sách pháp luật về đất đai
Qua các thời kỳ chiến tranh cùng với những chính sách đất đai theo yêu cầu của từng thời kỳ cách mạng đã dẫn đến những thay đổi mạnh mẽ về chính sách và các chủ sử dụng đất; đặc biệt là hệ thống pháp luật đất đai trong thời gian dài trước đây đã né tránh hoặc bỏ qua một số quan hệ về đất đai đồng thời lại liên tục có điều chỉnh, bổ sung theo kiểu gỡ từng bước một dẫn tới tồn đọng số vụ việc cần giải quyết và gây ra sự vận dụng khác nhau giữa các địa phương trong khi giải quyết những vấn đề giống nhau.
Năm là: Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng vẫn có nhiều bất cập
- Chưa làm sáng tỏ hay phân định rõ ràng khái niệm quyền sở hữu của toàn dân hay Nhà nước thống nhất quản lý và vẫn còn nhiều ý kiến trái chiều (do liên quan đến Hiến pháp) dẫn tới việc nhấn mạnh quyền thu hồi đất của Nhà nước, nhấn mạnh việc tạo vốn từ quỹ đất mà chưa quan tâm đầy đủ lợi ích chính đáng của người sử dụng đất, đặc biệt là trong việc định giá đất bồi thường, xử lý mối tương quan giữa giá đất thu hồi với giá đất tái định cư nên công tác bồi thường, GPMB ngày một gặp nhiều khó khăn.
- Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa lợi ích của xã hội, lợi ích các nhà đầu tư với lợi ích của những người có đất bị thu hồi, chưa gắn được nhiều trách nhiệm của nhà đầu tư với người bị thu hồi đất hay chưa đề cập được vấn đề bồi thường vô hình như tổn thất về tinh thần, tổn thất về tình cảm thường chỉ nhấn mạnh đến hiệu quả đầu tư, tính cấp thiết của việc giải phóng mặt bằng để có được dự án dẫn tới không bảo đảm điều kiện tái định cư, không có phương án tích cực về giải quyết việc làm cho người có đất bị thu hồi, nhất là đối với nông dân không còn hoặc còn ít đất sản xuất hoặc những người không còn việc làm cũng như nơi ở cũ.
Sáu là: Quá trình tổ chức giải quyết tranh chấp đất đai chưa thống nhất
- Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai liên quan đến thẩm quyền của nhiều cơ quan khác nhau. Cơ quan Tài nguyên và Môi trường thực hiện chức năng quản lý đất đai, cơ quan Tài chính quản lý chính sách tài chính về đất đai, cơ quan Xây dựng quản lý về nhà ở, quy hoạch đô thị. Tại các tỉnh, việc phân công thực hiện nhiệm vụ tham mưu cho y ban nhân dân trong việc giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai cũng không thống nhất, có vụ việc giao cho cơ quan Thanh tra chủ trì, có vụ việc giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì; ở cấp huyện có nơi giao cho Thanh tra huyện, có nơi giao cho Phòng Tài nguyên và Môi trường, thậm chí giao cả hai hoặc vài đơn vị phối hợp giải quyết. Tình trạng này đã gây khó khăn cho công dân và lúng túng trong việc xác định thẩm quyền tham mưu giải quyết.
3. Đề xuất một số giải pháp
Trước hết phải khẳng định sẽ không thể chấm dứt hoàn toàn việc tranh chấp đất đai, khiếu nại tố cáo có liên quan đến đất đai cũng như bồi thường, giải phóng mặt bằng vì các quan hệ xã hội thường xuyên thay đổi, phát sinh theo từng giai đoạn lịch sử. Tuy vậy, để giảm thiểu hay giải quyết các tranh chấp đất đai đang có một cách dứt điểm rất cần sự chung tay của các cấp chính quyền từ địa phương đến Trung ương, sự phối hợp đồng bộ trong rất nhiều các khâu, các hạng mục. i trực tiếp từ các tồn tại trên cần đúc rút ra một số kinh nghiệm cũng như các giải pháp tận gốc mới giải quyết ổn thỏa và giảm được tranh chấp, khiếu nại, tố cáo:
- Nâng cao năng lực giải quyết dứt điểm ngay trong các bản án của Tòa án nhân dân và sự phối hợp giữa cơ quan Tài nguyên Môi trường và cơ quan Tòa án, một bản án cần giải quyết được tất cả các yếu tố từ chủ sử dụng, quyền và nghĩa vụ từng bên đến nghĩa vụ tài chính hay về giấy tờ quyền sử dụng đất,.. việc này cần thể hiện bằng văn bản pháp quy giữa các cơ quan và hệ thống tòa án mới đủ tính pháp lý để thống nhất giải quyết trên toàn quốc.
- Xây dựng những quy định cụ thể, chi tiết hơn về quá trình giải quyết, thậm chí đề nghị thu tiền khi khiếu nại, tố cáo sai như một dạng án phí để tránh các trường hợp bị các đối tượng xấu lôi kéo cố tình vượt cấp, không chấp nhận các giải quyết nhiều lần, thậm chí làm nhục các cán bộ xử lý công việc,..
- Hoàn thiện về cơ chế giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai: Tiến tới giải quyết toàn bộ các loại hình tại Tòa án khi hòa giải ở cơ sở không thành công để tránh được tình trạng "vừa đá bóng vừa thổi còi", đảm bảo giải quyết được khách quan, người giải quyết độc lập với người ra quyết định hành chính, đồng thời buộc cơ quan hành chính và cá nhân có thẩm quyền phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình để nâng cao chất lượng giải quyết.
- Tiến dần tới thành lập hoặc giao nhiệm vụ cho tổ hòa giải cơ sở ở cấp huyện, thậm chí là cấp tỉnh để những người có am hiểu về pháp luật đồng thời có uy tín, có khả năng vận động, thuyết phục tham gia hòa giải các tranh chấp đất đai. Việc làm này có thể tránh được mối quan ngại về họ hàng, làng xóm lại có khả năng thuyết phục hòa giải cao hơn.
- Chú trọng đến hoàn thiện hệ thống hồ sơ địa chính, đảm bảo cấp GCN được cho đại đa số người sử dụng đất, hồ sơ đầy đủ, rõ ràng, cập nhật kịp thời các thay đổi phát sinh và lưu trữ các tài liệu có giá trị qua các thời kỳ là chìa khóa vàng cho giải quyết tranh chấp đất đai.
- Quan tâm ngay từ đầu đến việc thực hiện công tác bồi thường, GPMB khi tiến hành dự án, đây có thể coi là một phần gốc của vấn đề, bao gồm 2 mặt:
+ Nhân tố con người: tổ chức, cá nhân làm công tác bồi thường, GPMB phải thực sự nâng cao năng lực chuyên môn, thậm chí cần làm tốt cả khâu vận động, thuyết phục; có thể mở các lớp rèn luyện kỹ năng thuyết trình hoặc tư vấn, hội thảo, tập huấn trước khi tiến hành thực hiện dự án, qua đó giảm thiểu tranh chấp, khiếu tố.
+ Cơ chế, chính sách: các cơ quan chức năng cần sớm hoàn thiện các quy định để tránh chồng chéo, hiểu sai, vận dụng không đúng và đặc biệt là ban hành quy định về việc cưỡng chế kiểm đếm, kê khai tài sản, cưỡng chế GPMB. Nếu vận dụng như Nghị định 69/2009 hiện nay rất khó có thể ra quyết định cưỡng chế thu hồi đất (trường hợp người dân không tự nhận tiền thì không đủ điều kiện để cưỡng chế thu hồi đất).
                  

Hoàng Xuân Hoàn - Chi cục QLĐĐ - Sở TNMT Vĩnh Phúc.


Các tin đã đưa ngày: