Thực trạng và giải pháp về nước sạch nông thôn

28/08/2020

Hiện nay, vấn đề an ninh nguồn nước sinh hoạt của cả nước nói chung và nông thôn nước ta nói riêng đã, đang và sẽ còn ở mức báo động, rất cần sự nỗ lực của cộng đồng, ý thức trách nhiệm của người dân

Nước sạch là tài nguyên quý giá, nhưng không phải là vô tận. Nước là cần thiết cho sự sống nhưng khi bị biến đổi, ô nhiễm có thể gây ra những hiểm họa khôn lường cho con người. Nước sạch không thể thiếu trong đời sống của con người, hàng ngày chúng ta sinh hoạt đều phải sử dụng nguồn nước sạch từ ăn uống, tắm rửa, giặt giũ, vệ sinh,… Ngoài ra, việc sử dụng nước sạch trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp để tạo ra các thực phẩm sạch cũng là yếu tố quan trọng quyết định sức khỏe của con người.

Hiện nay, vấn đề an ninh nguồn nước sinh hoạt của cả nước nói chung và nông thôn nước ta nói riêng đã, đang và sẽ còn ở mức báo động, rất cần sự nỗ lực của cộng đồng, ý thức trách nhiệm của người dân và quyết tâm của cả của hệ thống chính trị.

Vai trò của nước đối với sức khỏe con người

Nước sạch đóng vai trò vô cùng quan trọng trong cơ thể người, vì nước chiếm đến 70 – 80% trọng lượng cơ thể. Một người trưởng thành có thể nhịn ăn trong vòng vài ngày, thậm chí vài tuần nhưng không thể không uống nước trong 3 – 4 ngày. Nước sạch có vai trò trong cơ thể như sau:

Nước có khả năng cung cấp nguồn chất khoáng, vận chuyển chất dinh dưỡng cần thiết cho các tế bào, nuôi dưỡng tế bào trong mọi hoạt động trong cơ thể. Nước sạch mà hàng ngày chúng ta thường sử dụng có chứa rất nhiều các chất khoáng có lợi cho sức khỏe.

Nước sạch được coi là dung môi sống của các phản ứng hóa học trong cơ thể, tham gia quá trình chuyển hóa và các phản ứng trao đối chất nhằm xây dựng và duy trì tế bào. Các tế bào có thể hoạt động và thực hiện các chức năng của mình là do được hòa tan trong dung môi.

Nước có khả năng đào thải các độc tố, các chất cặn bã mà các cơ quan, tế bào không thể hấp thu và được đưa ra ngoài thông qua đường nước tiểu và phân.

Nước còn có khả năng ổn định nhiệt độ cơ thể, phân phối hơi nóng của cơ thể. Nước làm cơ thể giải phóng nhiệt độ khi nhiệt độ môi trường cao hơn so với nhiệt độ cơ thể.

Ngoài ra nước còn có tác dụng bôi trơn nơi tiếp xúc với các đầu nối, bao hoạt dịch và màng bao, làm cho các khớp linh động. Nó còn có tác dụng giảm xóc cho mắt, tủy sống kể cả thai nhi trong nước ối.

Do vậy, sử dụng nguồn nước sạch trong sinh hoạt, trong ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp để đáp ứng nhu cầu cuộc sống của con người là yếu tố quyết định đến sức khỏe của mỗi người và cả cộng đồng. Khi sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm sẽ gây ra các bệnh về đường ruột như: tả, lỵ, thương hàn...; các bệnh về da liễu, mắt, phụ khoa như: hắc lào, nấm, lang ben, ghẻ, chàm, đau mắt đỏ, đau mắt hột, viêm kết mạc, viêm màng tiếp hợp, viêm âm đạo… Các bệnh này có thể lây bệnh sang người lành do nguyên nhân chính là thiếu nước và sử dụng chung nguồn nước bị ô nhiễm để sinh hoạt hàng ngày. Ngoài ra, sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm các kim loại nặng lâu ngày có thể gây ra các bệnh ung thư.

Thống kê của Bộ Tài nguyên & Môi trường, Bộ Y tế, hiện mỗi năm, có khoảng 9.000 người tử vong do nguồn nước và vệ sinh kém, gần 250 ngàn người nhập viện vì bị tiêu chảy cấp bởi nguồn nước sinh hoạt bị ô nhiễm, khoảng 200.000 người mắc bệnh ung thư mỗi năm mà một trong những nguyên nhân chính là do ô nhiễm nguồn nước. Theo một nghiên cứu của WHO về tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em Việt Nam, đã đưa ra cảnh báo, hiện có khoảng 44% trẻ em bị nhiễm giun và 27% trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng mà nguyên nhân chính là do thiếu nước sạch và kém về vệ sinh. Bên cạnh đó, có khoảng 21% dân số đang sử dụng nguồn nước bị nhiễm Asen. Điều rất đáng lo ngại là, trên thực tế vẫn còn một bộ phận dân cư bất chấp những con số báo động đỏ này. Theo một báo cáo gần đây của Bộ Tài nguyên và Môi trường vẫn có đến 30% dân số chưa nhận thức được tầm quan trọng của sử dụng nước an toàn.
Tổ chức WHO xếp Việt Nam vào số những nước có tình trạng an ninh nguồn nước đáng báo động, nhất là ở khu vực nông thôn.

Nguyên nhân

Theo thống kê của Tổng cục Thống kê, hiện nay dân số nước ta đã vượt mốc 90 triệu người, là quốc gia có dân số đứng thứ 13 trên thế giới, và thứ 3 ở Đông Nam Á. Gia tăng dân số nhanh chóng kéo theo những nhu cầu ngày càng tăng về sinh hoạt, giáo dục, đào tạo, chăm sóc y tế, giao thông vận tải, nhà ở, việc làm,... làm gia tăng sức ép đối với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, trong đó có việc cung cấp, sử dụng nguồn nước sạch.
Riêng chỉ nói đến việc xử lý nước thải sinh hoạt đã là một vấn đề rất lớn. Ước tính trung bình có khoảng 80% lượng nước cấp cho sinh hoạt trở thành nước thải sinh hoạt, nhưng tỷ lệ nước thải sinh hoạt được xử lý chỉ mới đạt khoảng 10% - 11% trên tổng số lượng nước thải đô thị. Điển hình một số nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt có công suất lớn đã đi vào hoạt động, như: Nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng, TP. Hồ Chí Minh với công suất 141.000 m3/ngày đêm, nhà máy xử lý nước thải tại Yên Sở (TP. Hà Nội) với công suất 200.000m3 /ngày,... nhưng chưa thể đủ đáp ứng làm sạch một khối lượng quá lớn về nước thải sinh hoạt.
Chính sách đảm bảo an ninh nguồn nước còn nhiều vấn đề bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn, dàn trải và kém hiệu lực, hiệu quả kể cả từ chính sách đầu tư đến công tác quản lý, cấp và sử dụng nguồn nước sạch. Hiện nay, việc sản xuất nước sạch, phân phối, tiêu thụ nước sạch được thực hiện theo quy định của Nghị định Chính phủ về sản xuất, cung cấp nước sạch do Bộ Xây dựng và ủy ban nhân các cấp chỉ đạo; việc quản lý, giám sát chất lượng sạch sau quá trình sản xuất cho đến cấp nước các hộ dân được thực hiện theo quy định về quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và quy định kiểm tra, giám sát chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt của Bộ Y tế; còn việc quản lý khai thác nước, bảo vệ nguồn nước nói chung được thực hiện theo quy định của Luật Tài nguyên nước, Luật Bảo vệ môi trường. Ngoài ra, Luật Tài nguyên nước còn có quy định riêng đối với việc bảo vệ chất lượng nguồn nước phục vụ sản xuất nước cho sinh hoạt. Đồng thời, các văn bản cũng quy định ủy ban nhân cấp tỉnh, huyện, xã có trách nhiệm thực hiện các biện pháp bảo vệ chất lượng nguồn nước sinh hoạt trên địa bàn.
Tuy nhiên, các quy định trên vẫn còn thiếu đồng bộ, chưa tạo ra chuỗi liên hoàn gắn kết trách nhiệm đối với các cơ quan quản lý, dẫn đến tình trạng vẫn còn “đùn đẩy” lẫn nhau, hoặc “cha chung không ai khóc”; ý thức của doanh nghiệp, người dân và cộng động không được đảm bảo.
Nhiều văn bản, chính sách thiếu đồng bộ, thiếu thống nhất về một đầu mối, dẫn đến việc quản lý, giám sát chất lượng nước sạch sau quá trình sản xuất; việc quản lý, khai thác nước, bảo vệ nguồn nước; việc phân phối, tiêu thụ nước sạch đến các hộ dân gặp nhiều khó khăn. Trên thực tế, ở nhiều địa phương, nhất là ở các vùng nông thôn xa xôi, kém phát triển, các ngành, các địa phương gặp nhiều bất lợi trong việc tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm các vi phạm về bảo vệ chất lượng nguồn nước. Sự thiếu đồng bộ trong các khâu, từ khai thác đến việc bảo đảm xử lý nước thô thành nước sạch và khâu phân phối qua hệ thống đường ống đến từng hộ dân, làm cho việc kiểm tra, giám sát cũng thường xuyên gặp khó khăn: Sự cố tại Công ty Cổ phần Đầu tư nước sạch sông Đà vừa qua là một bài học cảnh tỉnh về vấn đề bảo đảm an ninh trong việc cấp nước sinh hoạt cho mọi người dân. Bên cạnh đó, chất lượng nước uống ở nông thôn vẫn hầu như không được giám sát, kiểm tra, kiểm định chặt chẽ.
Nguyên nhân khiến việc sử dụng nước sạch trong sinh hoạt của người dân là do nhận thức còn hạn chế, nhất là ở khu vực nông thôn còn bất cập và nhiều hạn chế, là do nhiều hộ dân chưa nhận thức đúng tầm quan trọng của nguồn nước sạch đối với chất lượng cuộc sống và sức khỏe. Kể cả những nơi đã có hệ thống cung cấp nước sạch, nhưng mức tiêu thụ nước sạch đạt thấp do nhận thức chưa đầy đủ, bà con vẫn còn kết hợp sử dụng nhiều nguồn nước với đa phần giữ thói quen sử dụng nước giếng, nước khe suối trong sinh hoạt để tiết kiệm chi phí. Ngoài ra, ở một số địa phương có dự án cấp nước sạch do doanh nghiệp đầu tư, người dân phải chi trả phí đấu nối với số tiền lớn, nên nhiều hộ đã không mặn mà với sử dụng nước sạch.

Giải pháp

Theo Hiệp hội Tài nguyên nước Quốc tế (IWRA), Việt Nam hiện thuộc nhóm quốc gia đang có tình trạng thiếu nước. Nguồn nước nội địa của Việt Nam đạt trung bình kém, ở mức 3.840 m3/người/năm, thấp hơn 400 m3/người/năm so với mức bình quân toàn cầu.
Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng dự báo, đến năm 2025 lượng nước bình quân đầu người ở Việt Nam chỉ còn một nửa con số nêu trên. Đây được xem là một nghịch lý đối với một quốc gia có mạng lưới sông ngòi và hệ thống ao hồ dày đặc.
Có 2 nguồn nước: Nguồn nước tài nguyên và nguồn nước dùng để ăn uống, sinh hoạt. Nước tài nguyên là nguồn nước sông, suối, ao, hồ, nước ngầm hoặc nước mưa. Còn nước dùng để ăn uống, sinh hoạt là nước phải đảm bảo an toàn đối với sức khỏe của con người, tức là nước phải được kiểm soát các nguy cơ, xử lý và giám sát chất lượng đảm bảo theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.
Hiện nay, tuy tài nguyên nước bề mặt của Việt Nam tương đối dồi dào, nhưng đó không phải là nước sạch để dùng cho ăn uống, sinh hoạt vì nước sông, suối, ao hồ đều đang bị ô nhiễm nặng. Kể cả nước ngầm nhiều nơi hiện nay cũng đang trở nên ô nhiễm và thiếu do bị khai thác quá mức. Nước mưa cũng có nguy cơ bị ô nhiễm do một số nguyên nhân như không khí ô nhiễm, việc thu hứng để lấy nước mưa không đảm bảo, ví dụ như dùng mái lợp fibroxi măng để hứng nước mưa,... Mặc dù vậy, việc kiểm soát, giám sát nước nguồn và nước uống khu vực nông thôn là vô cùng hạn chế, và có thể nói gần như không được kiểm soát.
Kết quả khảo sát chương trình mục tiêu quốc gia của Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, chất lượng nước uống ở nông thôn vẫn hầu như không được giám sát và kiểm định chặt chẽ. Đặc biệt, khu vực nông thôn miền núi với các hệ thống cấp nước quy mô nhỏ do các đơn vị địa phương, tổ chức cộng đồng quản lý cấp nước vì mục đích dân sinh phi lợi nhuận.
Viện Sức khỏe nghề nghiệp và môi trường, Bộ Y tế đã thống kê, Việt Nam hiện có khoảng 17,2 triệu người (tương đương 21,5% dân số) đang sử dụng nguồn nước sinh hoạt từ giếng khoan, chưa được kiểm nghiệm hay qua xử lý. Người dân ở nhiều nơi tuy đã có nước hợp vệ sinh, nước sạch để dùng, nhưng việc kiểm định chất lượng nguồn nước tại nhiều địa phương còn sơ sài, thiếu chế tài và các giải pháp đồng bộ thường xuyên.

Hoàn thiện về văn bản pháp lý

Bổ sung “Đơn vị cấp nước dân sinh phi lợi nhuận: là tổ chức địa phương, hoặc cộng đồng được giao quản lý Hệ thống/trạm cấp nước sạch phục vụ cấp nước cho người dân không vì mục đích kinh doanh” vào sau khoản 5 và trước khoản 6 trong Điều 2 trong Nghị định số 117/2007/NĐ-TTg;

Trong Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, tuy đã xác định rõ các tiêu chí nước sạch và vệ sinh nông thôn (nội dung 9 mục Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội), nhưng trên thực tế, gần như 100% các xã không có đầu tư cấp nước sạch cho người dân. Vì vậy, cần có hướng dẫn thực hiện cho chính quyền địa phương các cấp cụ thể phần ngân sách cho nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn (trích trong tổng ngân sách xây dựng nông thôn mới của mỗi xã dành khoảng 5% cho nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn để đảm bảo cấp nước an toàn cho người dân).

Cần có hướng dẫn cho các mô hình cấp nước quy mô nhỏ (cụm dân cư, trường học do đơn vị quản lý phi lợi nhuận) xây dựng kế hoạch cấp nước an toàn chống thất thoát nước và xây dựng tiêu chí đánh giá thực hiện kế hoạch cấp nước an toàn.

Đối với các đơn vị cấp nước phi lợi nhuận, cần có hướng dẫn cụ thể về kiểm soát, giám sát và hỗ trợ ngân sách công tác giám sát chất lượng nước.
Giải pháp công nghệ áp dụng cho công tác giám sát và kiểm soát chất lượng. Hiện, cả nước có 16.342 công trình cấp nước tập trung, trong đó chỉ có 33,5% công trình bền vững, còn lại 37,5% hoạt động trung bình, 16.7% hoạt động kém hiệu quả và 12% không hoạt động. Cá biệt, vùng núi và Tây Nguyên có tới 45,2% công trình cấp nước tập trung hoạt động kém hiệu quả hoặc không hoạt động, tiếp đó là miền núi phía Bắc với tỷ lệ 34,8% và đồng bằng sông Hồng là 18,1%. Mặc dù Bộ Y tế có một hệ thống tổ chức đã được thiết lập tốt để giám sát chất lượng nước sinh hoạt và có năng lực kỹ thuật nhất định, nhưng trên thực tế chất lượng nước uống ở nông thôn vẫn hầu như không được giám sát.
Tăng cường công tác giáo dục truyền thông có hướng dẫn cụ thể, nhằm nâng cao nhận thức của cấp ủy, chính quyền địa phương và người dân về sử dụng nguồn nước và giữ vệ sinh môi trường. Đây là yếu tố rất quan trọng, bởi một khi người dân nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của nó thì những vấn đề nan giải sẽ vẫn chưa được giải quyết, thậm chí sẽ không được ứng xử một cách đúng đắn.

 

Tác phẩm đoạt giải cuộc thi ảnh Nước và cuộc sống do TC Cấp thoát nước Việt Nam tổ chức

 

Giải nhất mảng Nông thôn Chắt chiêu nước sạch. Tác giả: Trần Phước Thảo

 

Lâm Đồng đang hướng đến xã hội hóa trong việc đầu tư, quản lý và khai thác công trình nước sạch để đảm bảo nguồn nước đạt tiêu chuẩn cho người dân. Ảnh: Hoàng My

Các bộ, ngành liên quan cần rà soát lại chất lượng công trình, công trình nào bị hư hỏng mà người dân thật sự có nhu cầu thì phải tìm mọi biện pháp khắc phục. Bên cạnh đó, cần xã hội hóa đầu tư, kêu gọi nguồn vốn đầu tư từ các doanh nghiệp tư nhân. Hiện doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào các công trình cấp nước sạch tập trung nông thôn còn ít bởi năng lực tài chính yếu. Do vậy, cần cải thiện cơ chế, chính sách để khuyến khích áp dụng mô hình hợp tác công - tư, khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân có năng lực đầu tư vào các công trình cấp nước tập trung nông thôn.

Các địa phương cần làm tốt công tác quy hoạch các công trình cấp nước và vệ sinh môi trường, không để đầu tư tự phát. Xây dựng mô hình điểm về công trình cấp nước sạch, xử lý vệ sinh môi trường. Không chỉ chú trọng xây dựng mới, mà phải quản lý, bảo dưỡng tốt các công trình cấp nước đã được xây dựng, trong đó quy định rõ thời gian, trình tự và các nội dung bảo trì, bảo dưỡng, sửa chữa và thay thế các công trình, thiết bị. Thêm vào đó, cần gắn chương trình này với xây dựng nông thôn mới, bảo đảm đời sống người dân vùng nông thôn./.


PGS.TS Nguyễn Đức Khiển

moitruongvadothi.vn


Các tin đã đưa ngày: